Bác Hồ với Người khuyết tật - Người khuyết tật với Bác Hồ
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn dành tình cảm chân thành sâu nặng đối với những người yếu thế trong xã hội, đặc biệt là người khuyết tật, thương binh, bệnh binh. Không chỉ là sự yêu thương, cảm thông, còn là một tư tưởng nhân văn sâu sắc: người khuyết tật phải được tôn trọng, được tạo điều kiện học tập, lao động, hòa nhập và sống có ích cho xã hội. Từ lời dạy nổi tiếng “Tàn nhưng không phế”, bao người khuyết tật Việt Nam đã tìm thấy niềm tin, nghị lực để vượt lên số phận, khẳng định giá trị bản thân, có những cống hiến xứng đáng cho cộng đồng.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập 2011, 15 tập, có 19 lần Bác nhắc đến những người tàn tật. Năm 1941, trong Mười chính sách của Việt Minh, Bác viết: “Người tàn tật, kẻ lão niên/ Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho”[1]. Trong Chương trình Việt Minh, Bác nhắc lại việc Chính phủ chăm lo cho người khuyết tật và người già.
Năm 1950, trong bài viết Quỹ công lương, Bác đề nghị: “Bất cứ công dân nào từ 18 đến 55 tuổi đều có nhiệm vụ đóng Quỹ công lương, trừ những người đã được Chính phủ cho miễn hẳn như bộ đội, du kích thoát ly sinh sản (địa phương quân), thương binh được hưởng hưu bổng thương tật, học sinh không tài sản, người tàn tật không kế sinh nhai, v.v..”[2].
Trong bài báo Ngô Gia Khảm, Bác nêu tấm gương: “Đồng chí Khảm vì công việc và vì cứu nhà máy, mà bị thương 3 lần. Lần thứ 3 đồng chí đã hỏng cả tai mắt miệng mũi và què hai tay. Song không vì tàn tật mà nản chí; trái lại, đồng chí ngày càng cố gắng, càng tiến bộ. Trong mấy đợt thi đua, đồng chí Khảm đã khéo tổ chức thi đua tập thể và đã đào tạo nhiều chiến sĩ thi đua xuất sắc”[3].
Trong bài viết Gương mẫu dân vận, Nguyễn Văn M, Bác kể câu chuyện: “Một lần, đồng chí M. bị địch bắt. Dụ dỗ hết cách không được, chúng đánh M. chết đi sống lại mấy lần. Chúng buộc giẻ đổ dầu vào 10 ngón tay đồng chí và đốt như 2 bó đuốc. M. cứ nghiến răng chịu, và trong lòng cứ niệm câu “người đảng viên nhất định không khuất phục”. Sau cùng, địch trói M. cùng 3 cán bộ nữa đem trôi sông.
May đồng chí M. biết bơi, giả chết một lúc, rồi vừa bơi vừa để sóng dạt vào bờ, cách chỗ địch 1 cây số. Ngót 2 tháng thuốc thang, M. mới khỏi. Tuy đã thành tàn tật, đồng chí M. cũng cứ xin đi công tác. Xây dựng được cơ sở, địch lại càn quét. Mấy lần như vậy, M. vẫn không nản lòng. Suốt 2, 3 tháng, ban ngày thì nằm kín ở bụi cây, bờ ruộng, chịu gió rét mưa dầm. Đêm tối lại mò vào làng tuyên truyền, tổ chức. Bà cụ L., Công giáo, thấy vậy, khóc nức nở và bảo: “Đồng chí cứ về đây mà ở, nếu không may mà chết, thì mẹ con ta cùng chết với nhau, chết cho kháng chiến, Đức Chúa sẽ phù hộ chúng ta!”[4].
Ngày 24-8-1958, Nói chuyện với cán bộ và đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai, Bác nói về việc trong xã hội chủ nghĩa là ai cũng phải lao động. Lao động nhiều hưởng nhiều, lao động ít hưởng ít, không lao động thì không hưởng. Tư tưởng không lao động mà được hưởng lợi thì cần phải quét sạch trừ những những khuyết tật, người già và trẻ nhỏ.
Xin sơ lược trích dẫn lời Bác để thấy một tư tưởng rất tiến bộ trong bối cảnh đất nước còn nghèo khó, chiến tranh liên miên. Với Bác, chăm lo cho người khuyết tật không phải việc làm từ thiện, mà là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội. Điều đáng quý là tình thương của Bác luôn gắn với hành động cụ thể. Đối với thương binh, bệnh binh, Bác dành sự chăm sóc đặc biệt. Trong Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, năm 1947, Người viết thật cảm động: “Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào”. Không chỉ kêu gọi đồng bào giúp đỡ thương binh, chính Bác còn “xung phong” góp áo lụa, tiền lương và tiền ăn của mình để ủng hộ.
Năm 1948, trong Lời kêu gọi nhân ngày 27-7, Bác nhắc tới nỗi đau của những gia đình liệt sĩ, thương binh. Những câu chữ lay động lòng người: “Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được”. Đó không còn là lời của một vị nguyên thủ quốc gia, mà là tiếng nói của một trái tim nhân hậu, của tình yêu thương con người thật sự lớn lao. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác luôn quan tâm tới việc điều trị, chăm sóc thương binh. Người thường xuyên kiểm tra bữa ăn, nơi ở, thuốc men; nhắc các bác sĩ phải tận tình, nhân ái với bệnh nhân. Có lần, Bác yêu cầu chuyển chiếc điều hòa trong phòng mình sang trại điều dưỡng thương binh nặng. Một việc nhỏ nhưng chứa đựng bao yêu thương và sự sẻ chia.
Giá trị văn hoá lớn nhất trong tư tưởng của Bác là không nhìn người khuyết tật bằng ánh mắt thương hại. Mà là sự đồng cảm, chia sẻ, rất mực tôn trọng. Người luôn tin tưởng họ có thể lao động, học tập và cống hiến. Bác căn dặn thương binh, bệnh binh phải học nghề, tăng gia sản xuất, luyện tập thể dục thể thao, tránh mặc cảm, bi quan. Người nhắc nhở: “Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh tâm lý công thần. Chớ bi quan chán nản. Phải luôn cố gắng”. Tư tưởng ấy được cô đọng trong bốn chữ: “Tàn nhưng không phế”. Không chỉ là lời động viên, đó là sâu thẳm một triết lý nhân văn lắng đọng, ân tình. Có thể con người bị khiếm khuyết cơ thể, nhưng nhân cách, trí tuệ và khát vọng sống không hề tàn phế, vẫn mạnh mẽ. Con người vẫn có thể lao động, sáng tạo, sống hữu ích và được tôn trọng như mọi công dân khác.
Hôm nay nhìn lại, càng thấy tư tưởng của Bác đi trước thời đại. Mãi đến năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc mới chính thức thông qua Công ước về quyền của người khuyết tật, chuyển cách nhìn từ “vấn đề nhân đạo” sang “vấn đề nhân quyền”. Từ rất sớm, Bác Hồ đã nhìn người khuyết tật bằng sự bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người. Tư tưởng ấy tiếp tục được Đảng và Nhà nước kế thừa qua Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998[5], Luật Người khuyết tật[6] năm 2010 cùng nhiều chính sách hỗ trợ học tập, dạy nghề, việc làm, chăm sóc y tế và hòa nhập cộng đồng.
Lời Bác dạy “Tàn nhưng không phế” đã trở thành nguồn động viên lớn lao đối với nhiều thế hệ người khuyết tật Việt Nam. Từ chiến tranh đến thời bình, biết bao con người đã vượt lên số phận để sống đẹp, sống có ích.
Nhắc đến tinh thần vượt khó của người khuyết tật, không thể không nhắc tới ALăng Bhuốch, người dân tộc Cơ Tu bị mù bẩm sinh, nhưng trong kháng chiến chống Mỹ đã gùi gần 200 tấn hàng hóa, vũ khí vượt Trường Sơn suốt 14 năm. Năm 2012, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Anh hùng LLVT nhân dân Lê Duy Ứng bị hỏng mắt trong chiến tranh nhưng ông vẫn sáng tác hơn 3.000 bức tranh, tượng điêu khắc về Bác Hồ. Đặc biệt, bức chân dung Bác được vẽ bằng máu từ đôi mắt bị thương đã trở thành biểu tượng của niềm tin và ý chí Việt Nam. Người viết bài này từng được gặp và phỏng vấn hoạ sỹ là nhờ đâu hoạ sỹ lại vượt qua được khó khăn để sáng tạo nghệ thuật. Hoạ sỹ nói: vẽ bằng trái tim. Nhìn bằng trái tim. Khi con người ta có sức mạnh và tinh yêu thương của trái tim, sẽ vượt qua mọi khó khăn. Trong tim luôn có hình bóng Bác, nên sáng tác về Bác, như là lẽ tự nhiên.
Trong đời sống hôm nay cũng có rất nhiều tấm gương tương tự. Em Đồng Thị Hải Yến (sinh năm 2000, ở thôn Khoát, nay thuộc xã Tiên Lục, tỉnh Bắc Ninh) lên bảy tuổi đã xa gia đình, đến với mái ấm dành cho trẻ khiếm thị. Được thầy cô dìu dắt, xã hội chăm lo, gia đình, người thân, bạn bè động viên, bằng nghị lực phi thường, Yến lần lượt học qua các cấp phổ thông với kết quả xuất sắc. Học xong đại học, Yến trúng tuyển chương trình thạc sĩ tại 7 trường đại học danh tiếng là Harvard, Stanford, Yale, Columbia, Brown, Johns Hopkins (Hoa Kỳ), Oxford (Anh). Tháng 6/2024, Đồng Thị Hải Yến được Đại học Fulbright Việt Nam mời làm trợ giảng, và trở thành đối tác nghiên cứu chiến lược, làm việc trực tuyến với University of Wisconsin – Madison (Hoa Kỳ) về tâm lý, sức khỏe tâm thần. Quan tâm đến những bạn trẻ đồng cảnh, trước đó, năm 2021, Hải Yến đã sáng lập Spa M-Y - Massage trị liệu, tạo ra môi trường làm việc ổn định, chuyên nghiệp cho nhiều người khiếm thị.
Năm 2024, tại Hội nghị biểu dương người khuyết tật, trẻ mồ côi và người bảo trợ tiêu biểu toàn quốc lần thứ VI, nhiều người chú ý đến Bùi Ngọc Thịnh. Có bố mẹ đều là người khiếm thị, cậu bé Thịnh cũng chưa bao giờ được nhìn thấy ánh sáng. Đối mặt với vô vàn khó khăn, Thịnh vươn lên bằng nghị lực và tình yêu âm nhạc, để có thể chơi thành thạo 14 loại nhạc cụ (trống, guitar phím lõm, sến, tranh, cò, organ, kìm, piano, mandolin, bầu, tiêu, guitar, guitar bass, hồ). Năm 2012, tổ chức Kỷ lục Châu Á xác lập Bùi Ngọc Thịnh là người chơi được nhiều nhạc cụ xuất sắc nhất châu Á. Với trái tim đồng cảm, sẻ chia, mong muốn làm vơi bớt khó khăn của những người cùng cảnh ngộ, Ngọc Thịnh cùng với Ban chấp hành Hội người mù thị xã Ninh Hòa (cũ), tỉnh Khánh Hòa, vận động quyên góp 150 triệu đồng, mở ba khóa học đàn organ cho các hội viên. Ngọc Thịnh trực tiếp làm giáo viên giảng dạy.
Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh khác nhau, nhưng ở họ đều có điểm chung: không đầu hàng nghịch cảnh. Chính lời dạy của Bác Hồ đã truyền cho họ niềm tin rằng người khuyết tật vẫn có thể sống hữu ích, được xã hội tôn trọng và đóng góp cho cộng đồng. Con đường đến thành công của người không khuyết tật đã khó, với người khuyết tật còn gian nan bội phần. Họ phải vượt qua rào cản về sức khỏe, điều kiện sinh hoạt, học tập, việc làm, mặc cảm tâm lý. Nhưng bằng ý chí và nghị lực, nhiều người đã biến khiếm khuyết thành động lực để vươn lên.
Những tấm gương ấy không chỉ đáng khâm phục, còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc: giá trị con người không nằm ở sự lành lặn của cơ thể mà ở nghị lực, nhân cách và khát vọng sống.
Hiện nay, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm chăm lo cho người khuyết tật. Tuy nhiên, để họ thực sự hòa nhập và phát triển, cần có những giải pháp đồng bộ, cụ thể, thiết thực hơn.
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật bảo đảm quyền lợi của người khuyết tật theo hướng bình đẳng, nhân văn, hiện đại. Người khuyết tật phải được tiếp cận đầy đủ với giáo dục, y tế, giao thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ công.
Hai là, giáo dục hòa nhập cần được mở rộng hơn nữa. Nhiều trẻ em khuyết tật hiện vẫn gặp khó khăn khi đến trường do thiếu cơ sở vật chất và giáo viên chuyên môn. Cần tăng cường đầu tư trường lớp, thiết bị hỗ trợ, học liệu đặc thù như chữ Braille, ngôn ngữ ký hiệu và công nghệ hỗ trợ học tập.
Ba là, đào tạo nghề và tạo việc làm là giải pháp quan trọng giúp người khuyết tật tự tin hòa nhập. Thực tế cho thấy khi có nghề nghiệp ổn định, không chỉ giảm bớt khó khăn kinh tế, còn là cách họ khẳng định giá trị bản thân. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật; đồng thời hỗ trợ vốn, kỹ thuật để người khuyết tật khởi nghiệp, phát triển sản xuất.
Bốn là, chú trọng việc xây dựng môi trường sống thân thiện, không rào cản. Các công trình công cộng, phương tiện giao thông, không gian số cần được thiết kế phù hợp để người khuyết tật dễ dàng tiếp cận và sử dụng.
Năm là, cần có sự thay đổi nhận thức xã hội. Người khuyết tật không cần sự thương hại, cần sự tôn trọng, sẻ chia và cơ hội bình đẳng. Mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức cần xóa bỏ định kiến, tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia học tập, lao động và hoạt động xã hội. Bản thân người khuyết tật cần nuôi dưỡng ý chí vươn lên, chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng, vượt qua mặc cảm để hòa nhập cộng đồng. Lời dạy “Tàn nhưng không phế” của Bác Hồ như là một cẩm nang về tinh thần tự lực, tự cường để vươn lên.
Tư tưởng và tình cảm của Bác Hồ đối với người khuyết tật là di sản nhân văn vô giá. Ở Bác, luôn toả sáng ngọn lửa tình thương yêu bao la, sự trân trọng phẩm giá con người và niềm tin sâu sắc vào sức mạnh ý chí của mỗi cá nhân. Học tập và làm theo Bác không chỉ là chăm lo tốt hơn cho người khuyết tật, còn để xây dựng một xã hội nhân ái, công bằng, nơi mọi con người đều có cơ hội sống, cống hiến và hạnh phúc. 70 năm đã trôi qua, lời dạy “Tàn nhưng không phế” vẫn tiếp tục thắp sáng niềm tin cho hàng triệu người khuyết tật Việt Nam trên hành trình vượt lên số phận, hòa nhập cộng đồng và khẳng định giá trị của mình trong cuộc sống.
Đại tá, PGS – TS nhà văn Nguyễn Thanh Tú
[1] Hồ Chí Minh toàn tâp. 2011. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 3, tr 243
[2] Hồ Chí Minh toàn tâp. 2011. Sđd, tập 6, tr 342.
[3] Hồ Chí Minh toàn tâp. 2011. Sđd, tập 7, tr 420.
[4] Hồ Chí Minh toàn tâp. 2011. Sđd, tập 7, tr 507
[5] Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL-UBTVQH10, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/7/1998, quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, hỗ trợ phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật.
[6] Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật.