Nguyễn Đức Cảnh – Người chiến sĩ cộng sản kiên cường
Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 02/02/1908, tại làng Diêm Điền, tổng Hộ Đội, huyện Thụy Anh, nay là thị trấn Diêm Điền (Thái Thụy) - một vùng quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng.
Thân phụ Nguyễn Đức Cảnh là ông Nguyễn Đức Tiết (Cử Tiết), một nhà nho nghèo, năm 1888 thi đậu cử nhân. Vốn là người có tinh thần yêu nước, khảng khái, bất bình trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, ông từ chối không ra làm quan mà ở quê dạy học, góp phần mở mang dân trí. Thân mẫu của Nguyễn Đức Cảnh là bà Trần Thị Thuỳ, người làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông bà Cử Tiết sinh hạ được bốn người con: Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Đức Cảnh và Nguyễn Thị Thừa. Nguyễn Đức Cảnh là con thứ ba trong gia đình. Năm Nguyễn Đức Cảnh lên 7 tuổi, ông Cử Tiết qua đời, cuộc sống gia đình ngày càng sa sút, túng thiếu. Giữa lúc đó, một người bạn cũ của ông Cử Tiết là Nguyễn Đạo Quán, đang làm Tri phủ Thái Ninh, đến Diêm Điền, gặp bà Thuỳ xin được đem Nguyễn Đức Cảnh về nuôi. Bà Thuỳ rất thương con nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên phải bằng lòng để con đi. Ở với gia đình Nguyễn Đạo Quán một thời gian, sau khi gia đình này chuyển đi nơi khác ông Trần Mỹ, một người bạn của ông Cử Tiết, người làng Cổ Am, làm Tuần phủ Thái Bình lại xin Nguyễn Đức Cảnh về nuôi. Nguyễn Đức Cảnh tiếp tục được đi học. Sau khi học xong tiểu học, Nguyễn Đức Cảnh được Trần Mỹ đưa sang học ở trường Thành Chung - Nam Định.
Vào cuối năm 1925, đầu năm 1926, trong nước dấy lên phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu và phong trào để tang nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Ở Nam Định, thực dân Pháp ra lệnh cấm không được tổ chức lễ truy điệu Cụ Phan. Nguyễn Đức Cảnh đã tham gia vào Ban lãnh đạo bãi khoá. Sau lễ truy điệu, nhiều học sinh ở trường Thành Chung bị đuổi học, trong đó có Nguyễn Đức Cảnh. Hiểu rõ ý nghĩa của việc mình làm, cùng với khát khao đi tìm lý tưởng, cuối năm 1926, Nguyễn Đức Cảnh lên Hà Nội kiếm việc làm để tự nuôi sống mình và tìm tòi, học hỏi.
Lên Hà Nội kiếm sống, lúc đầu Nguyễn Đức Cảnh xin vào làm tại Hiệu ảnh Hưng Ký, sau chuyển sang dạy học ở trường Công Ích... gieo vào lòng các em học sinh tinh thần tự hào dân tộc, lòng yêu nước, căm ghét bọn thực dân, tay sai. Chính vì những bài giảng như vậy, thực dân Pháp buộc Nguyễn Đức Cảnh phải thôi dạy học. Rời Trường Công Ích, Nguyễn Đức Cảnh xin vào làm thợ phụ ở Xưởng in Lê Văn Tân, đi lại và kết bạn với nhóm thanh niên tập trung quanh Nam Đồng thư xã, một cơ sở sản xuất tiến bộ do hai anh em Phạm Tuấn Tài thành lập. Tại đây, Nguyễn Đức Cảnh có dịp tiếp xúc với Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính..., những người được coi là linh hồn của nhóm. Tháng 9 - 1927, Nguyễn Đức Cảnh cùng Lý Hồng Nhật xuất dương sang Quảng Châu (Trung Quốc), gặp Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để vận động hợp tác chống Pháp. Tại đây, Nguyễn Đức Cảnh được tham dự một khoá huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc chủ trương và Hồ Tùng Mậu trực tiếp phụ trách; được học tập chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có hệ thống, được trang bị vũ khí tư tưởng, chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản... Qua khoá huấn luyện, Nguyễn Đức Cảnh nhận thấy đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là phù hợp với yêu cầu và sự vận động của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, khi về nước, Nguyễn Đức Cảnh ly khai với nhóm Nam Đồng thư xã (lúc này đã phát triển thành Việt Nam Quốc dân Đảng) và xin gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Đức Cảnh.
Việc đầu tiên sau khi về nước, Nguyễn Đức Cảnh được tổ chức phân công nhiệm vụ xây dựng một cơ quan ấn loát độc lập ở khu phố chợ Đuổi (nay là phố Tuệ Tĩnh - Hà Nội) để in những truyền đơn cách mạng và tài liệu huấn luyện chính trị. Đầu tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D - phố Hàm Long (Hà Nội), chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập gồm 7 đồng chí, trong đó có đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên ở nước ta, đóng vai trò nòng cốt cho việc chuẩn bị thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và đồng chí Trịnh Đình Cửu được phân công dự thảo Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ chuẩn bị cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng.
Ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại ngôi nhà số 312 - phố Khâm Thiên (Hà Nội), các đồng chí trong chi bộ Hàm Long thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, ra Tuyên ngôn, xuất bản báo “Búa liềm” làm cơ quan tuyên truyền của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương lâm thời được thành lập do đồng chí Ngô Gia Tự làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được bầu làm Ủy viên. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất tại Cửu Long - Hương Cảng - Trung Quốc. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và đồng chí Trịnh Đình Cửu đại diện cho Đông Dương cộng sản Đảng tham dự hội nghị.
Sau Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh về nước thực hiện Nghị quyết Hội nghị thành lập Đảng, đã chuyển Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hải Phòng thành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm 1930) do đồng chí làm Bí thư.
Cuối năm 1930, Nguyễn Đức Cảnh được Trung ương cử vào bổ sung cho Xứ ủy Trung kỳ, trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh trong giai đoạn đầy khó khăn. Nguyễn Đức Cảnh được bầu vào ban Thường vụ Xứ uỷ Trung kỳ, phụ trách công tác tuyên huấn. Trên cương vị mới, đồng chí đã lăn lộn khắp miền đất lửa, góp phần giữ vững tinh thần quần chúng, củng cố cơ sở, duy trì phong trào và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống khủng bố. Có thể nói, hầu khắp các vùng: Nghi Lộc, Đức Thọ, Hưng Nguyên, Anh Sơn, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Nghi Xuân, Hương Sơn... (Nghệ Tĩnh) đâu đâu cũng in dấu chân người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Đức Cảnh (bí danh là Bé Con). Bọn mật thám vô cùng căm tức, cùng với việc tập trung lực lượng hòng dập tắt phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh, chúng cho tay chân lùng bắt bằng được người mang bí danh Bé Con.
Một tối cuối tháng 4-1931, sau khi dự Hội nghị nghe Nguyễn Phong Sắc truyền đạt Nghị quyết của Trung ương, trên đường về cơ sở, Nguyễn Đức Cảnh bị địch bắt ở làng Yên Dũng Hạ, gần thành phố Vinh. Mặc dù địch tra tấn dã man nhưng không lung lạc được người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Sau do Nguyễn Tuân bị bắt ở bến đò Tân Đệ, không chịu được đòn tra tấn đã khai thêm nhiều hoạt động của Nguyễn Đức Cảnh nên toà đại hình mở từ ngày 15 đến 17-11-1931 đã kết tội tử hình Nguyễn Đức Cảnh.
Trong xà lim án chém, Nguyễn Đức Cảnh tập trung sức để viết cuốn Công nhân vận động. Đây là bản tổng kết có giá trị chuyển ra cho TƯ. Ngày 30-7-1932, thực dân Pháp bí mật đưa Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân, một cán bộ lãnh đạo của Tỉnh bộ Bắc Ninh - Bắc Giang, xuống nhà lao Hải Phòng, để 5 giờ sáng hôm sau ngày 31-7 xử chém. Cả 2 chiến sĩ cộng sản hiên ngang, thanh thản bước lên đoạn đầu đài, trước sự kinh ngạc và nể phục của quan chức Pháp Nam, binh lính, cảnh sát, cha cố ... có mặt tại pháp trường.